Nấm Linh Chi (Nghiên cứu của GS. Đỗ Tất Lợi)

07-07-2016 13:23 | 47 lượt xem

( Trích từ sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Giáo sư Đỗ Tất Lợi)

Còn gọi là Linh chi thảo, nấm trường thọ, nấm lim, thuốc thần tiên.

Tên khoa học Ganoderma lucidum. Thuộc họ Nấm gỗ Ganodermataceae

Gân đây tại thị trường thuốc y học cổ truyền dân tộc, loại thuốc nhập nội có xuất hiện một loại thuốc mới là nấm Linh chi, nấm trường thọ (Longevity Mushroom) dưới nhiều dạng. Toàn tay nấm phơi hay sấy khô, cốm Linh Chi, dạng đông khô đóng thành nang (linh chi tinh), linh chi trộn nhân sâm, linh chi phấn hoa, với giá rất đắt. Ngay tại Trung Quốc giá Linh chi cũng đắt hơn cả Nhân sâm. Vậy Linh chi là gì? Chúng tôi xin giới thiệu sau đây một số hiểu biết hiện nay về nấm Linh chi.

Mô tả cây

Trước hết cần biết ngay rằng nấm Linh chi không phải là vị thuốc mới phát hiện ít năm gần đây. Linh chi là một vị thuốc đã được ghi trong tập sách “Thần nông bản thảo” viết cách đây khoảng 2000 năm. Lý Thời Trần, tác giả bộ “Bản thảo cương mục” mổi tiếng thế giới (Lần đầu tiên in năm 1595) cũng đã giới thiệu Linh chi với khoảng 2000 từ và 6 loại Linh chi mang màu sắc và tên khác nhau: Thanh chi (Linh chi màu xanh), hồng chi (màu hồng) còn gọi xích chi, đơan chi, hoàng chi (còn gọi là kim chi) màu vàng, bạch chi (còn gọ là huyền chi) màu đen, tử chi – linh chi màu tím. Tuy có ghi trong các sách cổ nhưng ít người được thấy, được sử dụng nên linh chi từ lâu vẫn là loại thuốc quý hiếm, chỉ có vua chúa, người giàu mới có thể sử dụng. Chỉ trong vòng 20 năm gần đây, có sự hợp tác giữa các nhà khoa học hiện đại với các lương y có kinh nghiệm, bí mật của nấm Linh chi mới dần được sáng tỏ, nhưng còn rất nhiều vấn đề chưa có thể kết luận dứt khoát. Cần phải sử dụng và tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu kinh nghiệm của người xưa.

Về thực vậy, người ta xác định nấm Linh chi chứ không phải một loại cỏ, mà là một loại nấm hóa gỗ có cuống dài hoặc ngắn, mũ nấm có dạng hình thận, có dạng hình tròn hay hình quạt. Cuống thường cắm không ở giữa mũ nấm mà cắm lệch sang một phía mũ. Hình trụ tròn hay dẹt có thể phân nhánh cuống và cuống có mầu khác nhau tùy theo loài, loài đỏ thay đổi từ nâu đến đỏ vàng, đỏ cam, mặt trên bóng loáng như đánh vecsni, trên mặt mũ có những vân đồng tâm.

Thụ tầng màu trắng ngà, khi già ngả màu nâu vàng, mang nhiều lỗ nhỏ li ti là các ông thụ tầng mang bào tử. Bào tử loài xích chi hình trứng, được bao bọc bởi 2 lớp mang, màng ngoài nhẵn, không màu, màng trong màu gỉ sắt, lỗ nảy mầm, có hình gai nhọn.

Toàn nấm gồm những sợi nấm không màu, trong sáng, đường kính 1-3 mm, có phân nhánh.

Tên khoa học được xác định là Ganoderma lucidum (Leyss. Ex. Fr) Karst. Nhưng có tác giả lại dành tên này cho Linh chi nói chung, còn loại Linh chi tím được xác định là Ganoderma japonicum. Tuy nhiên theo như kinh nghiệm xưa, tất cả cá loài Linh chi màu sắc khác nhau đều được sử dụng nhưng với  những tính chất và tác dụng khác nhau.

Phân bố thu hái và chế biến

Linh Chi thường thấy mọc ở các vùng núi cao lạnh ở một số tỉnh của Trung Quốc (Tứ Xuyên, Quảng Đông, quảng Tây…)

Gần đây, trên cơ sở những giống cây hoang dại người ta đã tổ chức trồng theo quy mô công nghiệp để đáp ứng nhu cầu dùng trong nước và xuất khẩu. Ngoài Trung Quốc, Nhật Bản cũng đã tiến hành trồng nhưng khí hậu khong thuận tiện như Trung Quốc.

Thành phần hóa học

Mặc dầu mới được đưa vào sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc vào 20 năm gần đây, nhưng nhiểu viện nghiên cứu thuộc các tỉnh khác nhau ở Trung Quốc đã nghiên cứu nhưng cũng chưa tìm được hoạt chất. Chúng tôi kê sau đây kết quả nghiên cứu của một số cơ sở.

Viện nghiên cứu tỉnh Quảng Đông nghiên cứu thành phần hóa học của nấm Linh Chi mọc hoang dại thấy: Nước 12 -13%, ligin 13 – 14%, hợp chất có N 1,6 – 2,1% hợp chất phenol 0,08 – 0,1%, tro 0,022% xelluloza 54 – 56%, chất béo 1,9 – 2%, chất khử 4-5%, hợp chất steroit 0,14 – 0,16%. Có tài liệu cho biết trong nấm Linh chi có 0,3 – 0,4% ergosterol.

Viện nghiên cứu kháng sinh Tứ Xuyên tìm thấy axit amin, protein, saponin, steroit.

Học viện y học Bắc Kinh phát hiện đường khử hoặc đường kép axit amin, dầu béo.

Theo những công trình nghiên cứu mới nhất của Viện nghiên cứu Linh chi hoang dại của toàn Trung Quốc thì trong hỗn hợp 6 loại linh chi có hàm lượng gemanium cao hơn lượng germanium trong nhân sâm từ 5 đến 8 lần. Germanium giúp khí huyết lưu thông, cá tế bào hấp thu oxy tốt hơn. Lượng polysacarit cao có trong Linh chi tăng cường sự miễn dịch của cơ thể, làm mạnh gan, cô lập và diệt các tế bào ung thư. Axit ganoderic có tác dụng chống dị ứng và chống viêm

Công dụng và liều dùng

Tính chất và tác dụng của nấm Linh Chi theo thần nông bản thảo và Bản thảo cương mục như sau:

Thanh chi tính bình, không độc chủ trị sáng mắt, bổ can khí, an thần, tăng trí nhớ, cường khí, chữa viêm gan cấp và mãn tính.

Hồng chi vị đắng tính bình, không độc, tăng trí nhớ, chữa các bệnh thuộc về huyết và thần kinh, tim.

Hoàng chi vị ngọt, tính bình, không độc, làm mạnh hệ thống miễn dịch.

Hắc chi vị mặn tính bình, không độc, chủ trị bí tiểu tiện, sỏi thận, bệnh ở cơ quan bài tiết

Bạch chi vị cay, tính bình, không độc, chủ trị hen, ích phế khí

Tử chi vị ngọt, tính ôn, không có độc, chủ trị đau nhức xương khớp, gân cốt.

Nói tóm lại dùng 6 loại linh chi lâu ngày sẽ giúp cho nhẹ người tăng tuổi thọ

Ứng dụng trên lâm sàng, theo dõi bởi những thầy thuốc YHKH tại một số bệnh viện, những thầy thuốc của YHKH Trung Quốc đã đi đến kết luận rằng nấm Linh chi có tác dụng trên một số bệnh như đau thắt cơ tim,  bệnh ở mạch vành của tim, huyết áp không ổn định, khi thấp khi cao, viêm phế quản, hen, thấp khớp, viêm gan mãn, bệnh phụ nữ vào thời kỳ mãn kinh, bệnh đường tiêu hóa, giúp thông minh và trí nhớ…

Cách và liều dùng đơn giản nhất là dùng toàn nấm Linh chi đã phơi sấy khô, thái mỏng hoặc tán thành bột đun nước sôi kỹ (sôi 1 5-30 phút) lấy nước uống trong ngày. Liều dùng mỗi ngày 2-5g nấm Linh chi, nước sắc nấm Linh chi có mùi thơm, vị hơi đắng, có thể thêm đường hay mật ong vào cho dễ uống,

Nhiều người còn mua nấm Linh chi khô về nấu canh, nấu súp làm món ăn bổ cao cấp

 

Fanpage Facebook